Thứ 5, Ngày 03 tháng 03 năm 2022, 10:22

Vị tướng có tâm hồn thi ca

Bút ký - PHẠM TRỌNG THANH

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, người anh hùng trong kháng chiến chống Mỹ, nhà khoa học quân sự xuất sắc, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học quân sự Liên bang Nga, nguyên Phó Tổng tham mưu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, người  tạo cho chúng tôi ấn tượng tốt đẹp mỗi lần gặp ông. Từ ông toát ra phong thái ung dung, lịch thiệp. Ngồi trước Thượng tướng, quan sát cách ứng xử của ông với mọi người, nghe ông nói chuyện, thật yên tâm.Ông có cảm tình đặc biệt với những người cầm bút chân chính.Có nhà báo đã viết: “Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu có duyên với anh em văn nghệ sĩ”. Đúng như vậy.

 

​Một người viết đơn tình nguyện từ năm 17 tuổi, và lên đường nhập ngũ năm 18 tuổi, trong ba lô có “Thép đã tôi thế  đấy”,  tiểu thuyết của nhà văn Nga Nikolai A.Ostrovsky. Nơi chiến trận, người lính trẻ đọc đến thuộc làu cuốn sách.Tinh thần thép và ý chí quật cường của nhân vật Paven Korchagin đã tác động tích cực vào lý tưởng sống và chiến đấu của Nguyễn Huy Hiệu trên chiến trường ác liệt. Khi được đề bạt làm cán bộ chỉ huy, những “câu thơ binh pháp” trong bài “Học đánh cờ” của Bác Hồ  gợi mở ý tưởng chủ động tấn công của Nguyễn Huy Hiệu lúc cầm quân cự địch: “Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ/ Kiên quyết, không ngừng thế tấn công/ Lạc nước, hai xe đành bỏ phí/ Gặp thời, một tốt cũng thành công”. Ông tiếp thu tư tưởng lồng lộng của chiến tranh nhân dân chính nghĩa, đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn đất nước từ thời Lý Trần đến thời Nguyễn Trãi viết đại cáo Bình Ngô: “Đem đại nghĩa thắng hung tàn/ Lấy chí nhân thay cường bạo”.

 

Viện sĩ  Nguyễn Huy Hiệu là tác giả của 7 cuốn sách quý, hiện hữu tại các Thư viện lớn trong nước. Đó là:  Một số vấn đề về đối ngoại quốc phòng Việt Nam; Một thời  Quảng Trị; Vận dụng phương châm “bốn tại chỗ” trong phòng chống thiên tai; Quân đội với vấn đề giải quyết hậu quả sau chiến tranh; Một số vấn đề nghệ thuật quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; Quân đội với chiến lược bảo vệ môi trường; Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga, mô hình mới về hợp tác công nghệ. Cuốn Một thời Quảng Trị được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.  Ông là vị tướng có tâm hồn thi ca, là tác giả 2 bài thơ được các nhạc sĩ phổ nhạc, phát trên sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam…

 

​Một ngày tháng 6 năm 2009, qua nhà văn Lê Hoài Nam, nguyên Phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh, tôi gia nhập đoàn khách văn từ Hà Nội về thăm quê Thượng tướng, xã Hải Long, huyện Hải Hậu, Nam Định. Chuyến giao du tình nghĩa này có các nhà văn, nhà thơ biên tập viên tạp chí Văn nghệ Quân đội, tuần báo Văn nghệ Hội Nhà Văn Việt Nam, phóng viên báo Biên phòng, cán bộ biên tâp nhà xuất bản Phụ nữ cùng đi. Trên chiếc taxi đi đầu, Thượng tướng là người chỉ huy chuyến hồi hương Hải Hậu. Niềm vui về quê của ông hòa cùng niềm hứng khởi của đoàn khách văn tiếp cận một vùng quê biển điển hình văn hóa toàn quốc. 

 

​Tại văn phòng Huyện ủy Hải Hậu, các đồng chí lãnh đạo và cán bộ huyện dành một buổi tiếp xúc thân tình với vị tướng và đoàn khách. Về đây được thụ hưởng không khí thoáng đãng một miền quê biển trù phú, thanh bình cùng nhịp điệu sôi động tại một huyên điển hình xây dựng nông thôn mới. Miền đất đầu sóng ngọn gió,  nơi sinh thành vị tướng tài đức kiêm toàn cùng các anh hùng quân đội, các nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch hàng đầu của đất nước. Về quê, Thượng tướng được mọi người chào đón niềm nở, cũng là dịp ông ân cần thăm hỏi những người đã nghỉ hưu, tiếp xúc thân mật với các các đồng chí lãnh đạo của Huyện. Giũa những người mến mộ, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu là niềm tự hào của quê hương, một điển hình “làm trai” thời chống Mỹ cứu nước như câu ca xưa các cụ dạy con cháu: “Làm trai cho đáng nên trai/ Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài yên”.

 

​ Với tôi và nhà văn Lê Hoài Nam, Hải Hậu là huyện ân tình.  Huyện ủy, Ủy ban Nhân dân huyện Hải Hậu nhiều lần giúp đỡ để Hội VHNT mở trại sáng tác cho hội viên, mở lớp bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho các cây bút năng khiếu sáng tác. Cũng tại Hải Hậu, bộ môn Thơ của Hội được phối hợp với trường cấp III Hải Hậu A tổ chức Ngày thơ Việt Nam lần thứ II, năm 2004 tại nhà trường và tại hội trường lớn của Huyện, người đến dự đông vui như ngày hội Văn hóa của huyện. Chúng tôi biết ơn huyện Hải Hậu trên đường công tác, lâu lâu lại nhớ về.

 

​Về xã Hải Long, nơi sinh thành Thượng tướng, đoàn có dịp đến chào Đảng ủy, Ủy ban Nhân dân xã và được tiếp đón chu đáo, tay bắt mặt mừng. Chúng tôi dàn hàng trên bến sông Xẻ đang mùa phù sa tươi mát, nghe Thượng tướng chia sẻ tâm tình. Nơi đây đã vào sách “Bến sông tuổi thơ” của nhà văn Lê Hoài Nam, nhiều bạn đọc khen ngợi. Dòng sông quê êm đềm gợi mở những tháng ngày tuổi thơ của người anh hùng. Bến sông này, cậu thiếu niên Nguyễn Huy Hiệu cùng bạn bè tập trận giả, bắt cá, bơi thuyền. Dòng sông quê, cánh đồng lúa, tình làng nghĩa xóm, mái trường tuổi thơ nuôi lớn tình yêu quê hương đất nước. Chếch bên kia sông với một cây cầu là “xóm Đồng Hồ”. Thấp thoáng những mái nhà, hàng cau, gốc vối. Ngôi nhà yên ấm, nền nếp, khói bếp vấn vít bên vườn cây. Cạnh nhà là ngôi từ đường Nguyễn tộc, phụng thờ gia tiên trải năm đời.Viết kịch bản phim tài liệu về Thượng tướng, nhà văn Lê Hoài Nam trích dẫn đôi câu đối phụng thờ tiên tổ tại ngôi từ đường:

 

​Nghĩa chí nhân cơ vinh tích vân nhưng bằng ngọc thụ.

 

​Canh văn hùng võ trường tồn niên duệ phát kim chi

 

Nghĩa là: Nếp nghĩa nhân để lại từ xưa như cây ngọc quý,

 

Văn hay võ giỏi trường tồn con cháu phát cành vàng.

 

​Theo gia phả họ Nguyễn, cụ tiền thủy tổ dòng họ Nguyễn ở Việt Nam là Định Quốc Công Nguyễn Bặc (924-979), một trong “tứ trụ triều đình” triều Đinh Tiên Hoàng đế Đinh Bộ Lĩnh, niên hiệu Thái Bình (970-979), nước Đại Cồ Việt, ở cố đô Hoa Lư, nay thuộc huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Năm 9 tuổi, Nguyễn Huy Hiệu được theo cha hành hương về đất tổ chiêm bái tiền nhân. Gương trung liệt, can trường của Định Quốc Công Nguyễn Bặc đã soi chiếu tâm hồn tuổi thơ, gợi cho cậu những điều thiêng liêng về gia tộc, nguồn cội võ công hiển hách còn đây. Sinh trưởng trong một gia đình Nho học yêu nước, trên kính dưới nhường, nơi đạo lý dân tộc với lời Phật dạy từ bi hỉ xả cùng tinh túy Nho giáo “nhân, nghĩa, lễ,  trí, tín” thấm vào tâm khảm cậu học trò gan dạ thông minh từ thuở sách bút đến trường. Từ biệt gia đình, mái trường quê hương, bước vào đội hình những người tình nguyện ra trận. Trong đợt giao quân năm 1965 của huyện Hải Hậu, Nguyễn Huy Hiệu được điều về quân khu 4 rồi chiến trường Bình Trị Thiên, gắn bó với vùng đất lửa Quảng Trị, có mặt ngay từ xuân Mậu Thân 1968, nơi  quân ta bẻ gãy cuộc hành quân đường 9, Nam Lào của địch năm 1971 đến “cuộc tiến công chiến lược 1972” tại  Quảng Trị. Trưởng thành từ một binh nhì, với thành tích xuất sắc trong rèn luyện và chiến đấu, Nguyễn Huy Hiệu là cán bộ tiểu đội, trung đội, đại đội rồi lên cấp chỉ huy tiểu đoàn, trung đoàn… Với những chiến công vang dội trên chiến trường, ngày 20-12-1973, Nguyễn Huy Hiệu được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang, năm ông 26 tuổi. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa xuân1975, khi ấy ông là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27 xuất phát từ Tam Điệp trong đội hình Sư đoàn 320B Binh đoàn Quyết thắng hành quân thần tốc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phối hợp tác chiến, giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Thời gian sau, ông lại cùng đơn vị hành quân lên biên giới phía Bắc chống quân bành trướng xâm lược. Tiếp theo là những trọng trách của một vị tướng thời bình được Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng, phòng chống thiên tai, giải quyết hậu quả chiến tranh…Ông là vị tướng có những “bước chân không mỏi của người anh hùng”, một tướng lĩnh cấp cao nhiều năm trong quân ngũ, giữ trọn phẩm cách “trí, dũng, liêm, trung” theo lời Bác dạy. Một người sống nhân ái, thủy chung, chưa bao giờ quên tình nghĩa của những người dân từng che chở giúp đỡ mình, chưa bao giờ quên tình đồng chí, đồng đội đồng cam cộng khổ trên các nẻo đường đất nước.

 

Thượng tướng, Viện sĩ Nguyễn Huy Hiệu

 

​Bước vào cổng Nghĩa trang Liệt sĩ xã Hải Long, chúng tôi cảm nhận không khí thiêng liêng, nơi yên nghỉ của 245 liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Một nghĩa trang cấp xã được xem là “nghĩa trang thờ liệt sĩ đẹp nhất tỉnh Nam Định”. Theo bước Thượng tướng, chúng tôi thắp hương tưởng niệm anh linh các liệt sĩ cùng quê với Thượng tướng, những người ngã xuống từ hai cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại, Tổ quốc ghi công, quê hương thương nhớ, quanh năm hương khói phụng thờ. Cảm xúc đặc biệt khi dừng bước bên cây bồ đề do Thượng tướng cất công mang từ Tây thiên đất Phật về trồng trong khuôn viên nghĩa trang liệt sĩ quê nhà, nay đã tỏa bóng xanh mát. Đây là một trong ba cây bồ đề từ chuyến thăm Cộng hòa Ấn Độ năm 2003, Thượng tướng cùng phu nhân đến vãng cảnh ngôi chùa cổ ở Bosgaya. Các nhà sư trụ trì ân cần đón tiếp. Qua tiếp xúc, “nhận ra vị tướng Việt Nam có tâm thiền”, họ ngỏ lời muốn tặng khách quý một món quà mang “thiền ý” nơi đất Phật.

 

Nhận 3 cây bồ đề non từ các nhà sư Ấn Độ mến khách, Nguyễn Huy Hiệu mang về trồng ở bản doanh Quân đoàn I tại Tam Điệp một cây. Đây là nơi ông chỉ huy đơn vị lao động sáng tạo ngoài chương trình rèn luyện quân sự, biến những ngọn đồi hoang thành vườn cây trĩu trái, biến những diện tích mấp mô đất đá khô cằn thành những “phố sư đoàn” đường nhựa, cửa gương sáng đẹp, đông vui.

 

Cây bồ đề thứ hai, ông mang trồng ở Nghĩa trang quốc gia đường 9, Quảng Trị,  miền đất hàng vạn liệt sĩ đã ngã xuống trong chiến đấu khiến một người từng kinh qua 67 trận đánh như ông suốt đời ghi nhớ tri ân đồng đội. Cảm xúc của một người lính – vị tướng anh hùng đã thành những dòng thơ tâm huyết, để đời:

 

“Hãy quỳ xuống hôn lên mặt đất

 

Trầm tích máu xương lớp lớp địa tầng!”

 

Với cây bồ đề nghĩa trang Hải Long trong chuyến đi này, tôi đã viết bài thơ in trong tập sách nhiều tác giả “Vị tướng với tấm lòng tri ân”( NXB Phụ nữ, 2014). Trên trang bìa 4 của cuốn sách, họa sĩ Ngô Xuân Khôi đã chọn in bức ảnh:  “Thượng tướng cùng phu nhân tại cầu Ngói, chùa Lương, Hải Hậu Nam Định”. Kề bên bức ảnh đẹp, hoạ sĩ đã chon in 4 câu thơ Phạm Trọng Thanh trong bài thơ trên: “Bốt-gay-a rừng thiền miền cổ tích

 

Một người phương Đông thức ngộ dọc hành trình

 

Giặt áo trận trên “dòng sông rực lửa”

 

Nhận cây thiêng miền đất Phật ân tình”

 

                              (Bên cây bồ đề đất Phật)

 

Thăm Bệnh viện Đa khoa huyện Hải Hậu, trong lúc Thượng tướng cùng các nhà văn bước vào phòng khách, tôi cùng nhà văn Khuất Quang Thụy lặng lẽ bước sang sân khoa Đông Y, đứng ngắm tượng đại danh y Hải Thượng Lãn Ông. Giữa khoảng không gian thoáng rộng có vườn hoa, cây cảnh, trên khuôn bệ màu nâu hồng cao vừa một tầm tay với, nổi bật dòng chữ vàng ĐẠI Y TÔN HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG (1720- 1791). Hải Thượng Lan Ông Lê Hữu Trác tĩnh tọa dưới màu trời quê biển Hải Hậu, sắc diện, trang phục, râu tóc của Người trắng nuột một màu mây. Dưới bàn tay đại danh y, sách Hải Thượng Y tông tâm lĩnh  mở ra cùng gió biển, phong thái Hải Thượng ung dung tự tại như một tiên ông. Đây là công trình nghệ thuật cao quý do gia đình Thượng tướng đặt nghệ sĩ tạo hình làm tượng rồi hiến tặng Bệnh viện Đa khoa Hải Hậu, “một cơ sở y tế điển hình cấp quốc gia về khám bệnh và chữa bệnh tại chỗ”. Được biết khoa Đông Y bệnh viện được hình thành là do có sự hỗ trợ của Thượng tướng “vận động các nhà doanh nghiệp tài trợ, nhờ cậy Viện Y học cổ truyền quân đội đào tạo miễn phí cán bộ, nhân viên cho khoa”. Công trình tôn vinh y đức dân tộc là một trong những việc làm tâm đức của Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu.

 

​Tháng 10 năm 2009, nhận lời mời dự cuộc thi  sáng tác thơ “Vì hạnh phúc cuộc sống” do báo Gia đình & Xã hội, Bộ Y tế tổ chức, tượng đài danh y Hải Thượng Lãn Ông tại Bệnh viện Đa khoa Hải Hậu đã gợi cho tôi một chủ đề, một tứ thơ sâu sắc để có bài “Tìm người kên Kinh năm ấy” đoạt giải Nhì. Tôi thầm cảm ơn nghĩa cử cao đẹp của Thượng tướng đã tạo cho thơ tôi có một cơ duyên để bước lên sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội nhận giải thưởng thơ sau một chuyến đi:​…“Một ngày Hải Hậu cho tôi nhìn lên

 

​Tượng đài danh y áo bạc râu bạc

 

​Giữa những bệnh nhân giữa những người thầy

 

​Hải Thượng Lãn Ông cuộc đời ghi tạc

 

​Biết mấy gian nan y đức còn đây!”

 

​​​​(Tìm người lên Kinh năm ấy)

 

​Tháng 9 năm 2015, tôi có dịp về Hà Nội, dự cuộc hội ngộ bạn bè bên hồ Trúc Bạch để nhận cuốn sách nhiều tác giả viết về thượng tướng “Những bước chân không mỏi của người anh hùng”. Tại căn phòng tầng II một khách sạn đẹp, tôi có dịp gặp lại Tiến sĩ văn học Trần Thị Trâm, nhà thơ Nguyễn Thị Mai, các nhà văn Lê Hoài Nam, Kiều Bích Hậu và các nhà báo, bạn viết mới quen. Ai cũng vui khi ngồi cùng Thượng tướng trò chuyện tâm tình, chuyện văn chương học thuật. Trên tường cạnh cầu thang là bức tranh khảm Cầu Ngói chợ Lương, tạo một góc nhìn sáng tươi về quê nhà Hải Hậu. Trên tường cạnh ô cửa sổ  thấp thoáng tán cây đường phố là bức tranh Mùa thu vàng của danh họa Nga Isaac Levitan (1860 – 1900) mở ra một khoảng rừng Nga đầy ắp mùa thu vàng chân trời phương bắc. Giờ đây nước Nga ở trong trái tim vị tướng có tầm hồn thi ca,  nơi ông là người nước ngoài đầu tiên được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học Quân sự Liên bang Nga. Nước Nga, nơi bác sĩ Lại Thị Xuân được đào tạo hệ chính quy 7 năm tai trường Đại học thành phố Ô-đét-xa. Chắc hẳn tình yêu đẹp như mơ của hai người và gia đình hạnh phúc của ông bà hôm nay cũng có phần tác thành của nước Nga bè bạn.

 

Căn gác bên hồ Trúc Bạch nơi làm việc của Viện sĩ Nguyễn Huy Hiệu quy tụ không khí văn chương học thuật cho tôi có thêm bài thơ Vị tướng với mùa thu. Xin trích 4 dòng khổ cuối bài thơ để kết bài bút ký này:

 

                    …“Vị tướng trở về sau những chuyến đi xa

 

                     Giấy trắng trên tay gió mùa thu lật mở

 

                     Trang sách tri ân viết rồi, viết nữa

 

                     Hà Nội trập trùng mây mùa thu đang bay…”./.

Phạm Trọng Thanh

CỔNG THÔNG TIN THI ĐUA KHEN THƯỞNG                                                                                                                                                      Design by: Webstyle.vn

Liên hệ